October 2010

khoảnh khắc mơ về thời thơ bé.

Posted in Tản mạn cuộc sống, on Sunday, October 24, 2010 at 6:16:51 PM

Khi mệt mỏi với công việc hoặc đang tìm cách để lướt qua áp lực thì mỗi người sẽ có cách riêng của mình. Đem quyển sách mình thích nhất ra đọc cũng là cách để vượt qua mọi thứ. Quyển sách tôi xem nhiều lần nhất trong đời đến lúc này là “Cho Tôi Một Vé Đi Tuổi Thơ”. Lúc này đây có thể cho là người bạn giúp tôi ôn hình ảnh lúc còn bé. Mỗi lần đi công tác hay tinh thần không ổn thì cứ lấy nó ra đọc và cười rồi nhớ về tuổi thơ để nơi đó còn sự hồn nhiên nhưng đó chỉ là khoảnh khắc chợt mơ

“Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ…”

1250772086_images1767972_no-loi-ket-2

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ

… về lại mái nhà quê nghe mưa rơi lộp độp

bước ra ngoài

khúc sông đỉa bám

khúc sông nước trong

khúc sông in tán dừa

chiều giông mưa nào

mùa hè mưa nào

con đường mưa nào

tôi ở quê.

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ

… tôi sẽ nói với ông bà

rằng cháu biết ông bà thương cháu

tôi sẽ nói với ba mẹ

rằng con biết ba mẹ kỳ vọng vào con

tôi sẽ nói với bạn

rằng tôi quý bạn vô cùng

bao điều tôi muốn nói

nhưng ngượng

trẻ con làm cái gì cũng dễ

tôi lỡ làm người lớn

nên tôi biết.

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ

… dẫu chỗ ngồi có chật

tôi sẽ đứng

dẫu đường có xa

tôi sẽ đợi

dẫu năm tháng có đi qua thêm nhiều nữa

tôi sẽ vẫn chờ

chờ hoài một vé

đi

tuổi

thơ.

(Azzurri lấy cảm hứng từ câu “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của Robert Rojdesvensky)

Nơi ấy

Tuổi thơ ở trên cao

Cầu thang nắng. Hành lang nắng

Buổi chiều mơ

Quả chò vò xoay

Xoay. Xoay tròn

Xoay tròn mãi… Dẫn về

Những ngày khám phá vùng đất mới

thế giới là to

” … khi ấy chắc sẽ vui!”

đường lạ. Gió cũng lạ

cành cây đánh đu

tiếng cười trong như kiếng

thấy ấm lòng và ấm cả bàn tay nắm chặt đẫm mồ hôi.

Bốn bánh xe tròn

lăn lăn. Lăn lăn

lọc xọc. Lọc xọc

Xao xuyến buộc chặt nỗi mong nhớ đếm mặt trời.

Chiều buông trên mí mắt

chùng trong tim

nghe sương thì thầm

ráng chiều xoa tay níu bước về

vướng lưới nhện giăng giăng

hẹn hò nhé!

Ngày chồng ngày

Tháng chồng tháng

Năm chồng năm

Mảnh ghép lạc.

Vỗ tròn ký ức thủy tinh.

Có chuyến tàu tuổi thơ, xin cho tôi một vé!

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ

imagesCA8Z2AH3

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ

“…

Đêm nay tôi bước vội khỏi nhà

Đến ga,

xếp hàng mua vé:

Lần đầu tiên trong nghìn năm,

Có lẽ,

Cho tôi xin một vé

đi tuổi thơ.

Vé hạng trung -

Người bán vé hững hờ

Khe khẽ đáp:

Hôm nay vé hết!

…”

(Robert Rojdesvensky)

Lần đầu tiên trong 20 năm … có lẽ

Con muốn quay về thuở bé thơ

Con muốn ba ôm con vào lòng và hát

Hai bài ca mà con nhớ đến bây giờ…

Lần đầu tiên trong 20 năm … có lẽ

Con muốn vẫn là cô bé tí ti

Được mẹ cột tóc, cột dây nơ sau áo

Cột tuổi thơ con vào những yêu thương.

Lần đầu tiên trong 20 năm … có lẽ

Em muốn kể với anh về tuổi thơ em

Về những nụ cười và … những giọt nước mắt

Về những suối nguồn tạo ra em hôm nay.

Chiếc vé kia hôm nay đã hết

Ngày mai liệu còn bán ko anh?

Hay luôn nằm trong trái tim ta đó

Để em tìm về trong ký ức mong manh …

Lần cuối cùng em… tìm mình như vậy

Sẽ vẫn là em- cô bé của ngày xưa

Ấu thơ trôi qua nào có ai lấy lại

Giữ trong lòng trong sáng tuổi thơ em.

15/03/08

“…

Ôi thành phố Tuổi Thơ -

bài ca ngày nhỏ

Chúng tôi hát-

Xin cảm ơn điều đó!

Nhưng chúng tôi không trở lại,

Đừng chờ!

Trái đất nhiều đường.

Từ thành phố Tuổi Thơ

Chúng tôi lớn,

đi xa…

Hãy tin!

Và thứ lỗi!”

(Robert Rojdesvensky)

 

24.10.2010

PPL

 

viết tiếp về Trí thông minh của người Việt (trong lĩnh vực khoa học)

Posted in Uncategorized, on Wednesday, October 20, 2010 at 7:26:15 PM

Hình như chủ đề này cũng rất được nhiều người đóng góp, chủ yếu những người có tuổi và làm công tác nghiên cứu khoa học. Nhìn chung là các trí thức cũng có chút bức xúc để viết lên một thực tế mà ít ai nhìn nhận.

Hai bài viết mới nhất này của tác giả Nguyễn Quốc Tín cũng được đăng trên www.tuanvietnam.net Góc nhìn của tác giả 70 tuổi làm trong lĩnh vực khoa học đưa thêm cho chúng ta một số so sánh thú vị nho nhỏ.

PPL tiếp tục trích dẫn những bài viết này.

Trí thông minh người Việt so với thế giới

http://www.tuanvietnam.net/2010-10-20-tri-thong-minh-nguoi-viet-so-voi-the-gioi 

Tác giả: Nguyễn Quốc Tín

Bài đã được xuất bản.: 21/10/2010 06:00 GMT+7

Nếu kết hợp cả số công trình đã được đăng với số người làm công tác khoa học- công nghệ (ta đông hơn Thái 5 lần) thì "sản phẩm trí tuệ" tính theo đầu người của ta bằng 1/25 của Thái (nói nôm na, một nhà khoa học của Thái tạo ra "sản phẩm trí tuệ bằng 25 nhà khoa học Việt).

Lý thuyết giỏi nhưng làm... không giỏi

Tôi xin kể lại một câu chuyện như một kỷ niệm nhỏ của mình. Cách đây hơn 40 năm, tôi được cử đi làm thực tập sinh khoa học (sau đại học) ở Tiệp khắc. Do "ăn theo" ông thầy, tôi được "ghé tên" vào mấy bản báo cáo ở Hội nghị quốc tế chuyên ngành đôi ba lần và được đi dự cùng ông. ĐSQ biết chuyện này, và trong một Hội nghị các sinh viên tiên tiến, tôi được ông Bí thư thứ nhất (đã mất từ lâu) báo tin tôi được báo cáo điển hình tại "Hội nghị những lưu học sinh tiến tiến" tại Tiệp.

Song bản báo cáo phải viết trước để ông thông qua (hồi đó cẩn thận lắm, không được phát biểu tự do). Trong báo cáo tôi có kể lại chuyện của mình và rút kinh nghiệm, đại khái là chúng ta có thể học giỏi nhưng sau khi ra trường làm không giỏi như họ. Cùng một công việc, họ thường có suy nghĩ và cách giải quyết "sáng" hơn mình, độc đáo hơn mình. Có thể mình "bí" nhưng họ vẫn tìm được lối ra.

Lúc tôi sắp lên đường đến hội nghị (cách khoảng 500 km) thì nhận được hồi âm "Quan điểm sai, đầy tinh thần tự ti dân tộc. Cậu không phải đi họp nữa". Tôi bị ám ảnh khá lâu vì "quan điểm sai lầm" của minh...

Sau khi hết hạn thực tập, tôi về nước (năm 1971), lúc qua Matxcơva may mắn được ở cùng phòng với nhà thơ Lưu Trọng Lư, trên chuyến tàu hoả từ Liên Xô về Việt Nam. Những ngày trên đường, 2 bác cháu nói chuyện với nhau khá nhiều. Khi tôi mang chuyện này ra hỏi, ông hoàn toàn đồng ý. Ông bảo đó cũng là điều ông rút ra từ bản thân mình và các bạn bè thời Pháp.

Chẳng có gì lạ vì cái học của mình, ngày xưa thì tầm chương trích cú, sau này thì học "gạo", lấy chăm chỉ, cần cù làm chính nên học "giỏi" là đương nhiên. Sự học là như vậy. Khi ra làm việc, phải chủ động, sáng tạo, phải quyết đoán, cái "yếu" của mình mới thể hiện. Ý kiến đó sau này tôi cũng được giáo sư Nguyễn Thạc Cát (đã mất năm 2002) chia sẻ.

Giỏi lý thuyết nhưng không giỏi thực hành

Tôi có thể nêu một thí dụ nữa. Anh N.M.N bạn tôi làm ở ngành Địa chất. Một buổi ngồi chuyện trò với nhau, anh tâm sự: Hồi học ở Liên Xô những năm 60, mình học cùng nhóm với thằng S.V - người Nga - và thường xuyên phải giúp nó học và làm bài tập. Tốt nghiệp mình bằng đỏ, nó bằng thường.

Hơn 10 năm sau, nó sang Việt Nam làm chuyên gia, mình được phân công làm việc cùng với nó. Lúc đầu, cũng bực: "Chuyên gia gì mày. Mày còn nhớ những lúc tao làm bài hộ mày chứ !". Nhưng dần dần, mình ngày càng "sợ" nó. Nó nhận định và giải quyết những chuyện chuyên môn ở mức mình không phải người tranh cãi với nó nữa mà chỉ đóng vai trò... phiên dịch cho nó mà thôi. Chuyện! Nó ra công tác với đầy đủ điều kiện làm việc, lại bám được một "sư phụ" cực giỏi, kinh nghiệm đầy mình để học hỏi, trong khi ở cái đội thăm dò của mình, mình là... trùm.

Biết bao nhiêu lý do để có hiện tượng "học giỏi nhưng làm không giỏi của "ta" và "tây". Từ cách dạy, cách học ở trường phổ thông, không gợi mở, không khuyến khích sáng tạo đến thiếu điều kiện làm việc khi ra trường để phát triển... Việc học giỏi nhưng làm không giỏi lắm khiến người Việt mình dường như đến một lúc nào đó không "bật" được nữa, có muôn ngàn lý do...

"Cúi trông thẹn đất, ngửa trông thẹn trời"

Một dân tộc không thông minh không thể tồn tại và phát triển trải qua 4000 năm với biết bao nhiêu sức ép mãnh liệt từ bên ngoài. Một dân tộc đã thắng được ba cường quốc mạnh hơn mình và trình độ phát triển cao hơn mình là một sự thông minh tuyệt vời. Song nội dung của bài này chỉ giới hạn sự thông minh trong những sáng tạo khoa học công nghệ như chúng ta thường quan niệm.

Có ý kiến cho rằng các nhà khoa học công nghệ Việt Nam ít công trình được công bố chỉ vì không gửi đăng. Vì quá "biết mình biết người"? Vì những sự e ngại, rơi rớt từ thời đóng cửa? Vì ngoại ngữ yếu? Vì các thiết bị nghiên cứu còn lạc hậu nên số đo không được chấp nhận? Vì thành kiến của người nước ngoài đối với khoa học công nghệ VN? Vì chính sách của nhà nước, của ngành chưa thích hợp? Kinh phí nghèo nàn, đời sống quá khó khăn? Rất có thể có nhiều lý do làm "trí tuệ VN" chưa phát huy được, nhưng cũng có nhiều lý do mà các nhà khoa học VN không thể biện minh.

Nói thông minh nhiều hay ít cứ phải có dẫn chứng cụ thể. "Sản phẩm của sự thông minh" đối với những người lao động trí óc là những công trình nghiên cứu và hiệu quả của chúng mang lại. Điều quan trọng nữa là cần có sự so sánh để hiểu chúng ta có bao nhiêu "sản phẩm" loại này và những nước xung quanh có bao nhiêu.

Sản phẩm đầu tiên là số công trình nghiên cứu và triển khai - nói lên bức tranh về sự thông minh của nhân loại - lên tới hàng triệu bài báo mỗi năm, được công bố trên khoảng 9.000 tạp chí chuyên môn có uy tín quốc tế. Tôi xin nhắc lại các số liệu mà tôi ghi lại cách đây nhiều năm (Trần Minh Tiến, trên tờ Tia Sáng 2-2004).

Không dám dẫn ra bất cứ một nước trung bình nào, tác giả chỉ so sánh 3 nước vào thời điểm năm 1973 có điểm xuất phát gần như nhau là Thái Lan, Singapore và Việt Nam, thì đến năm 2000, số công trình được đăng trên các tạp chí khoa học của ta chỉ bằng của Thái Lan và Singapore năm 1980. Còn hiện nay, Thái nhiều hơn ta đến 5 lần, Singapore nhiều hơn ta 12,5 lần.

Một số liệu khác còn "gây sốc" hơn: Trong 30 năm qua, số lượng các bài báo về y- sinh học của VN được công bố trên các tạp chí quốc tế trên dưới 300 bài, thì của Malaysia - 2.100 bài (gấp 7 lần), Thái Lan- 5.210 bài (gấp 14 lần), Singapore khoảng 7.000 bài (gấp 23 lần).

Nếu kết hợp cả số công trình đã được đăng với số người làm công tác khoa học- công nghệ (ta đông hơn Thái 5 lần) thì "sản phẩm trí tuệ" tính theo đầu người của ta bằng 1/25 của Thái (nói nôm na, một nhà khoa học của Thái tạo ra "sản phẩm trí tuệ bằng 25 nhà khoa học Việt). Một con số thật nghiệt ngã!!!. Số liệu này là của trước đây 5 năm. Hiện nay, khoảng cách về các số liệu trên ngắn lại, giữ nguyên hay dài hơn, tôi chưa có thời gian tìm hiểu, song dù sao thì sự chênh lệch cũng vẫn quá lớn.

Có ý kiến cho rằng các nhà khoa học công nghệ Việt Nam ít công trình được công bố chỉ vì không gửi đăng. Vì quá "biết mình biết người"? Vì những sự e ngại, rơi rớt từ thời đóng cửa? Vì ngoại ngữ yếu? Vì các thiết bị nghiên cứu còn lạc hậu nên số đo không được chấp nhận? Vì thành kiến của người nước ngoài đối với khoa học công nghệ VN? Vì chính sách của nhà nước, của ngành chưa thích hợp? Kinh phí nghèo nàn, đời sống quá khó khăn? Rất có thể có nhiều lý do làm "trí tuệ VN" chưa phát huy được, nhưng cũng có nhiều lý do mà các nhà khoa học VN không thể biện minh.

Tiêu chuẩn thứ 2 mang tính thực dụng hơn, là các bằng sáng chế phát minh đăng ký trên trường quốc tế. Đây là những con số tổng kết của năm 2009 của Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế WIPO, mà VN là thành viên, thậm chí còn được khen ngợi là "thành viên hoạt động hiệu quả", và cũng xin được chỉ trích những nước trong khu vực.

Kết quả có thể khiến một người tự trọng "đỏ bừng mặt": Năm 2009, Singapore đăng ký 493 bằng phát minh, trong tổng số bằng của họ trong kho tàng phát minh của nhân loại (cũng tính đến hết năm 2009) là 4.959 bằng, của Malaysia tương ứng là 181 và 1.298, của Thái Lan là 39 và 519, của Philippin là 25 và 379, của Indonesia là 18 và 253, của Việt Nam là...2 và 14. Đọc những con số ấy, người Việt nào chẳng thấy rưng rưng, "cúi trông thẹn đất, ngửa trông thẹn trời".

Cũng có thể mình có những phát minh gì còn "giữ lại để dùng" mà chưa công bố với thế giới chăng?

Tại sao sản phẩm trí tuệ của Việt Nam ít như vậy? Một đội ngũ hùng hậu với gần 2 triệu người làm KHCN, hàng vạn thạc sĩ, hàng vạn tiến sĩ, gần 2.000 GS, gần 6.000 Phó GS và hàng triệu cử nhân, kỹ sư, trung cấp kỹ thuật mà trong một năm chỉ đăng ký được có 2 phát minh được quốc tế chấp nhận thôi sao?

Bản báo về phát minh sáng chế của Canada có ghi chú: Số phát minh sáng chế hàng năm tuy phản ảnh một chỉ số sáng tạo nhưng đôi khi có thể không chính xác (đọc đến đây, tôi hy vọng có "lý do chính đáng" để yên tâm). Họ cho biết đó là những phát minh lớn, giá trị kinh tế cao song người ta không đăng ký, sợ bị lộ một bí quyết sản xuất lớn, làm nên sản phẩm đặc trưng chỉ mình mới có, các nước khác phải phụ thuộc vào mình.

Rất có thể như vậy, nhưng tôi chưa nghĩ ra là "bí quyết" gì khiến ta không đăng ký ?

Cũng có thể mình có những phát minh gì còn "giữ lại để dùng" mà chưa công bố với thế giới chăng?

Những quan điểm trên đây có thể nông cạn, chủ quan, "tự ti dân tộc" và đồng thời nguồn thông tin tiếp cận chắc chắn còn hạn chế. Rất mong được sự phản biện, trao đổi lại của bạn đọc, để từ việc tìm ra nguyên nhân của những yếu kém, chúng ta có những giải pháp khẳng định có tính thuyết phục về trí thông minh của người Việt?

 

 

Trích dẫn 21.10.2010.

PPL.

Doomsday 2012 - thiên văn học, truyền thuyết người maya hay câu chuyện tâm linh

Posted in Cuộc sống muôn màu, on Sunday, October 10, 2010 at 6:31:42 PM

Tò mò, thích khám phá và nhiều chuyện luôn luôn nằm trong tự điển của PPL cho mọi công việc xung quanh cuộc sống, công việc và học tập.

Hôm nay viết 1 bài về chủ đề hiện nay cũng khá nhiều người quan tâm về một sự kiện (có thể và cũng không có thể) vào năm 2012. Tôi giữ nguyên gốc của từ này là Doomsday (một số nguồn dịch là ngày tận thế, nhưng tôi cứ để cho nó như thế, còn thực tế ra sao thì phải đợi).

PPL làm trong lĩnh vực IT nhưng xuất thân là Vật Lý nên liên quan đến Doomsday thì càng muốn thể hiện sự tò mò.

Xoay quanh thời điểm mà hơn 2 năm nữa mới có thể chứng minh là có thật hay không? Mọi thứ liên quan giữa khoa học và xã hội thường được chứng minh khi nó đã xảy ra, như các hiện tượng vật lý, công trình toán học,…đều mất thời gian sau mới chứng minh.

Vậy sự kiện Doomsday đang được nói nhiều trên các phương tiện truyền thông chưa thể gọi là chứng minh bất cứ gì mà chưa xảy ra, đó chỉ là phỏng đoán. Cho nên sau khi đọc entry này trên linhnotes.com thì mọi người đừng đưa ra bất cứ sự khẳng định nào hết. Sẽ tội nghiệp cho PPL nếu nhưng khẳng định của bạn không đúng. Chúng ta không có bất cứ thông tin nào để khẳng định việc này là đúng hay sai.

Vậy hiện nay có những luồng thông tin như thế nào?

1  - Bộ lịch Long Count của người Maya.

Nói đến nền văn minh của người Maya đó sẽ là nhiều sự ngạc nhiên về trí tuệ của họ thời bấy giờ. Những phát minh của họ đến ngày nay vẫn được đánh giá rất cao trong khoa học như kiến trúc, toán học, thiên văn học….Ngay từ thời cổ đại họ đã có nhiều phát kiến mà mãi sau này khoa học cận và hiện đại mới chứng minh được.

kiến trúc theo kim tự tháp của người Maya

Chỉ một ví dụ đơn giản về sự phát triển con số 0. trước cả Châu Âu 900 năm. PPL chắc chắn chúng ta xem thường co số này lắm nhưng nếu hình dung trong toán học và xã hội nếu không có con số này chắc sẽ lọan tất cả, vì không ai chịu cân bằng với ai, không có khái niệm cho và nhận, vay và mượn, không có khái niệm những co số lớn và quan trọng là tiền.

Một ví dụ khác về phát kiến của họ về thiên văn học, người Maya xác định chính xác độ dài của một năm gồm 365 ngày, thời gian Trái Đất quay hết một vòng quanh Mặt Trời, chính xác hơn rất nhiều lịch được châu Âu sử dụng vào thời đó

Tuy thế, người Maya lại không sử dụng độ dài tính toán thời gian một năm vào lịch của họ.

Người Maya tính ra mỗi tháng có 20 ngày, mỗi năm có 18 tháng cộng thêm mỗi năm có 5 ngày kiêng kỵ không đưa vào tháng nào. Nhờ vậy số ngày thực chất trong một năm là 365 ngày. Số đó vừa vặn trùng hợp với nhận thức quay về thời gian Trái đất tự quay và quay quanh Mặt trời hết một chu trình. Người Maya ngoài sự hiểu biết về lịch Trái đất chuẩn xác, họ còn rất am hiểu về lịch năm của sao Kim. Một năm của sao Kim, tức là thời gian để sao Kim quay quanh Mặt trời hết một chu trình, người Maya tính ra một năm sao Kim dài 584 ngày. Còn ngày nay tính ra một năm sao Kim dài 583,92 ngày. Đó là một con số chuẩn xác đến kinh ngạc mà người Maya đã có phương pháp tính lịch từ mấy ngàn năm trước.

Xin lưu ý người Maya đã đưa ra những con số chính xác về thiên văn học và mãi sau một thời gian các nhà khoa học mới tính toán và chứng minh đến mức có sự trùng khớp với những gì người Maya đưa ra. Vậy dựa vào lịch Long Count  thì ngày 21 tháng 12 năm 2012 là kết thúc lịch của người Maya. (theo Long Count ngày 13.0.0.0.0). Lưu ý đây là ngày kế thúc lịch của họ chứ không có đề cập bất cứ gì đến Doomsday.

lịch của người Maya

Nếu ai muốn có khái niệm tổng quát của nền văn minh của người Maya có thể xem thêm tại đây http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_Maya 

2 - Truyền thông đại chúng

Trong điện ảnh và tiểu thuyết hiện nay cũng có nhiều tác phẩm được xuất bản về đề tài này. Và bộ phim 2012 cũng đã thu hút một lượng lớn khán giả đến lúc này.

poster của film 2012

3 - Các nhà chiêm tinh, thầy bói, thầy phong thủy,….

Một số ý kiến khác theo khía cạnh dự báo cá nhân của những nhà chiêm tinh được đánh giá có năng lực thật sự đưa ra, có thiên tai,bệnh dịch…. sẽ đến trong thời điểm này. Một số người tự vỗ ngực là đã đúng trong các dự đoán về sự kiện 11/9, thiên tai,…Nhưng cũng có những người dự đoán sai bét với sự kiện 2000 (Y2K).

4 - Quan điểm của các nhà Vật lý thiên văn

NASA (National Aeronautics and Space Administration) đã lập hẳn ra chuyên mục để nói về những vấn đề xung quanh Doomsday. Những câu hỏi và trả lời đều xung quanh đến các hành tinh lạ, lịch của người Maya cổ đại, hiện tượng đảo cực,…

Cũng nhiều giả thuyết về địa chấn, đại hồng thủy và sự di chuyển cực của trái đất.

PPL đưa các trích dẫn gốc của NASA và trích dẫn bằng công cụ dịch sang tiếng Việt để mọi người cùng tham khảo.

Nhà khoa học cao cấp David Morrison của NAI (NASA Astrobiology Institude) có trả lời liên quan đến giả thuyết về hành tinh Nibiru và Doomsday.

Bài viết của Giám đốc đài quan sát Griffith ở Lost Angeles về những gì liên quan Doomsday

Bài viết nói về hành tinh X Saga

Hai năm là dài để chờ xem điều gì sẽ đến và cũng là ngắn nếu đó là điều tồi tệ ập đến. Điều tồi tệ có thể đến vào ngày mai hoặc có thể không bao giờ đến, nên ta hãy yêu và hưởng thụ từng khoảnh khắc hiện tại.

PPL luôn quan niệm giàu cũng chết, nghèo cũng chết, giỏi cũng chết, ngu cũng chết, con người dù sao cũng sẽ có một kết quả chung. Nhưng nếu trước khi chết mà sướng thì vẫn thích hơn, làm những gì mình thích, ăn những gì mình muốn, đi đến nhiều nơi để hiểu biết và trải nghiệm mọi thứ ở cuộc đời này.

Yesterday is history. Tomorrow is a mystery. Today is a gift

10.10.2010

PPL.

 

Người Việt có thông minh không? (trích dẫn từ www.tuanvietnam.net)

Posted in Uncategorized, on Wednesday, October 06, 2010 at 7:41:15 PM

PPL đọc các bài viết trên www.tuanvietnam.net thấy hay nên đưa vào linhnotes.com để có thêm nhiều tham khảo. Tiêu đề của tác giả đã làm rất tò mò cho người đọc, nhưng khi đọc thì thấy mọi thứ đều có lý của nó chứ không phải là vô cớ đưa ra.

Mọi người cùng xem và ngẫm, tức nhiên PPL cũng là người Việt.

Người Việt có thông minh không? http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-09-24-nguoi-viet-co-thong-minh-khong-

Người Việt khôn hay dại http://tuanvietnam.net/2010-10-05-nguoi-viet-khon-hay-dai-

PPL.

 

Người Việt có thông minh không?

Tác giả: Minh Dũng

Người Việt thường vận dụng trí tuệ của mình vào trong những hành vi ứng xử tạo nên những tiểu xảo trong cuộc sống, trong giao tiếp. Chính sự lanh lẹ, tinh ranh, tiểu tiết trong ứng xử tác động ngay trực tiếp tới người khác đã làm nổi bật cái gọi là "thông minh" của người Việt.

LTS: Người Việt có thông minh không? Đây là tiêu đề bài viết của cộng tác viên Minh Dũng gửi đến cho Tuần Việt Nam. Nhận thấy đây là chủ đề thú vị, tôn trọng tính thông tin đa chiều, và để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải bài viết, và mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi, thảo luận của quý bạn đọc về chủ đề này.

Xưa nay, người ta thường dùng khái niệm "văn hóa tiểu nông" để chỉ thứ văn hóa sản sinh bởi một xã hội sản xuất nông nghiệp, mạnh mún, mang tính tự cung tự cấp, ít tính liên kết và sản xuất chuyên sâu với trình độ phân công lao động thấp. Sản phầm của nền sản xuất tiểu nông ít được thị trường hóa. Văn hóa tiểu nông khiến con người luôn ở thế thủ, chỉ lo cho lợi ích bản thân và trước mắt, ít dám nghĩ chuyện lâu dài, và cũng ít có khả năng nghĩ chuyện lâu dài. Nền sản xuất tiểu nông luôn lặp lại và duy trì những quy trình có sẵn đã hạn chế tư duy tìm tòi khám phá của con người.

Thông minh hay tinh ranh tiểu tiết?

"Sự thông minh" của người Việt Nam tưởng chừng chẳng có liên quan gì tới thứ văn hóa tiểu nông. Văn hóa tiểu nông tưởng như vô hại đối với tính thông minh hay không thông minh của người Việt. Nhưng ở đây, bằng những nghiên cứu phân tích xã hội học, người ta đã lột tả rất rõ sợi dây liên kết này.

Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về sự thông minh của người Việt. Và có nhiều ý kiến đánh giá rằng: Người Việt thông minh với nghĩa so sánh tương đối với các chủng tộc trên thế giới.

Chúng ta luôn thừa nhận câu cửa miệng "người Việt thông minh". Nhưng dường như chưa mấy ai đặt phạm trù thông minh của người Việt trong bối cảnh nền văn hóa, tâm lý và tập quán của cộng đồng xã hội người Việt, nên nhận diện về "sự thông minh ấy" còn phiến diện và không mang tính thuyết phục. Người Việt thông minh là vậy, thế tại sao ít có viễn kiến, ít có phát minh sáng chế, ít có nhà tư tưởng mang tầm cỡ nhân loại... Tại sao và tại sao?

Người Việt có thông minh không? Khách quan mà nói, giống người Việt không đến nỗi ngu độn (!). Có rất nhiều học sinh Việt Nam rất giỏi tại các trường danh tiếng thế giới. Những cuộc thi quốc tế về toán, lý hóa... thường đoạt giải cao. Nhưng để kết luận là thông minh (thông minh hơn so với các chủng tộc khác) thì phải so sánh. Hãy so sánh trí thông minh của người Việt với người Nhật, người Hàn, người Trung Quốc, người Ấn Độ, người Trung Đông, người Do Thái, người châu Âu, số người chiếm tới 80% dân số thế giới.

Nếu nói "người Việt thông minh" có nghĩa trí tuệ người Việt là thượng đỉnh trong số 80% dân số địa cầu. Không, chẳng đời nào lại như vậy! Các nhà bác học lớn, những nhà tư tưởng vĩ đại đóng góp cho văn minh loài người mà người Việt ta là nhóm người đang được hưởng thụ đại đa số cũng chỉ nằm trong những giống người kể trên. Làm phép so sánh như thế, ai cũng tin rằng người Việt chẳng thể hơn ai về trí tuệ trên trái đất này.

Vấn đề nằm ở đâu? Vấn đề là nằm ở chỗ, người Việt thường vận dụng trí tuệ của mình vào trong những hành vi ứng xử tạo nên những tiểu xảo trong cuộc sống, trong giao tiếp. Chính sự lanh lẹ, tinh ranh, tiểu tiết trong ứng xử tác động ngay trực tiếp tới người khác đã làm nổi bật cái gọi là "thông minh" của người Việt. Sự tinh ranh, tiểu tiết trong ứng xử cuộc sống cũng là căn nguyên chính tạo nên những thói hư tật xấu như thói hay ganh ghét, đố kỵ, trở thành một trong những đặc trưng tính cách của người Việt "một anh làm thì tốt, ba anh cùng làm thì hỏng việc".

Người Việt thông minh là vậy, thế tại sao ít có viễn kiến, ít có phát minh sáng chế, ít có nhà tư tưởng mang tầm cỡ nhân loại...

Ví von khác: Người Việt rất giỏi về các môn "chọc gậy bánh xe", "qua cầu rút ván", "gắp lửa bỏ tay người", "ném đá giấu tay"... Tiểu xảo trong giao thiệp dễ để lại ấn tượng trong lòng người khác một cách vừa bất ngờ, vừa gây kích thích, vừa thú vị và có cả nể sợ. Chỉ thế thôi, tính chất thông minh đã được gắn với người Việt.

Người Đức nghĩ ra Mercedes và sản sinh ra Karmarl tại sao không gắn tính thông minh vào? Người Trung Quốc có nhân vật Khổng Minh và viết ra Tây Du Ký hết thế hệ người Việt này đến thế hệ khác xem không chán, sao cũng không được gắn mác thông minh nhỉ? Vậy theo tôi, thật nực cười khi chúng ta tự nhận người Việt là thông minh.

Việc đánh giá người Việt thông minh hoàn toàn chỉ là sự đánh giá cửa miệng, thiếu cơ sở nghiêm túc. Đối với người nước ngoài nói về người Việt thì thường chỉ là lời khen "đãi môi". Còn ai, người Việt nào tin và tôn sùng điều đó thì đó là kẻ ảo tưởng trầm trọng. Chưa có một công trình hay sự thừa nhận khoa học nào về nhân chủng học khẳng định tính thông minh nổi bật của dòng giống Việt.

Trí thông minh người Việt - sản phẩm của "văn hóa tiểu nông"

Người Việt rất ít khi dùng trí tụệ dành cho việc đi sâu khám phá. Bản chất vấn đề là thứ mà người Việt ít hướng tới, biến nó trở thành xa xỉ phẩm. Nên người Việt chẳng có mấy lý thuyết chuyên sâu, ít có sáng tạo phát minh cho nhân loại, không có mấy nhà tư tưởng. Nền khoa học của người Việt cũng chỉ toàn là thứ sao chép, lắp ráp, bắt chước do người khác làm nền tảng.

Người Việt rất ít khi dùng trí tuệ dành cho việc đi sâu khám phá. Bản chất vấn đề là thứ mà người Việt ít hướng tới, biến nó trở thành xa xỉ phẩm. Nên người Việt chẳng có mấy lý thuyết chuyên sâu, ít có sáng tạo phát minh cho nhân loại, không có mấy nhà tư tưởng. Nền khoa học của người Việt cũng chỉ toàn là thứ sao chép, lắp ráp, bắt chước do người khác làm nền tảng.

Những điều suy nghĩ chủ yếu của người Việt đối với cộng đồng thường không hướng vào lợi ích chung mà thường xuyên vận dụng để mưu cầu lợi ích riêng, để phù hợp với mục tiêu cá nhân, mang tính trước mắt. "Tính cộng đồng" mà nhiều người đánh giá là cao của người Việt thực chất là sự tri giác đối với xung quanh, một mặt để hạn chế sự khác biệt tức hạn chế sự phê phán, đánh giá của xã hội đối với bản thân (để đồng dạng).

Đồng thời người ta luôn tìm cách ứng xử để tạo vỏ bọc hình ảnh đẹp đẽ, giải tỏa thói sĩ diện huênh hoang cho chính mình. Cũng chính nó trở lại là thủ phạm của thói nhút nhát, tự ti khi cảm thấy mình yếu kém hơn xung quanh hoặc chưa chứng minh được mình hơn người.

Như vậy, trí tuệ của người Việt trở thành nô lệ của sự đánh giá, nó không hạn chế để phát triển lợi ích riêng có và rất hạn hẹp trong việc mở mang lợi ích chung. Người Việt chúng ta luôn tâm niệm với cái thiết thực nhất, trực tiếp nhất và là lợi ích trước mắt, những điều lớn lao, cao cả đối với cộng đồng là việc của người khác. Tâm lý "ôm rơm nặng bụng", "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" theo góc độ quan tâm tới vấn đề chung đã làm thiệt thòi cho lợi ích cộng đồng.

Trí thông minh người Việt- sản phẩm của "văn hóa tiểu nông". Ảnh minh họa

Thiên hướng chú trọng sử dụng trí tuệ vào mặt này mà không tập trung vào mặt khác của đời sống xã hội không phải tự trí tuệ, mà được quyết định bởi nền văn hóa, thói quen, tâm lý của xã hội. Thứ văn hóa, tâm lý, thói quen tạo nên việc tập trung sử dụng trí tuệ vào một mặt nhất định của đời sống xã hội hay nói cách khác là thiên hướng sử dụng trí tuệ của người Việt như những điều đã phân tích ở trên chính là do "văn hóa tiểu nông". Đây là thứ văn hóa lạc hậu, sai lệch, trì trệ, là thứ di sản văn hóa bệnh dịch, khó có thể gột rửa được ngay nhưng cần có ý thức để gột rửa.

"Văn hóa tiểu nông" tạo nên một nếp sống bừa bãi, tùy tiện của người Việt (văn hóa sống, văn hóa ứng xử). Nhiễm "văn hóa tiểu nông", con người sẽ thiếu sự tôn trọng xung quanh (bao gồm tất tần tật từ người cho đến vật)- tất cả những thứ mà họ cảm thấy không liên quan trực tiếp tới mình. Vì vậy, nó là thủ phạm của sự thờ ơ với lợi ích cộng đồng, cũng là nguyên nhân của tính cách đố kỵ, tham lam, bè nhóm, thiển cận, cục bộ...

Vậy là ngoài việc tìm ra thủ phạm tạo ra cái mác "thông minh" háo danh của người Việt, ta cũng đã tìm ra một trong những thủ phạm cản trở sự thăng tiến của dân tộc Việt Nam nằm trong lĩnh vực văn hóa, đó là "văn hóa tiểu nông".

 

 

Người Việt khôn hay dại?

Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức

Cái khôn ranh chỉ là bản năng sống rình mồi kiếm ăn của các loài thú. Chỉ có cái khôn của hiểu biết mới biến con người thành công trình sư cho số phận của mình.

LTS: Sau khi đăng tải bài viết "Người Việt có thông minh không?", Tuần Việt Nam nhận được nhiều ý kiến thảo luận, tranh cãi xung quanh chủ đề này. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam sẽ lần lượt giới thiệu các góc nhìn khác nhau. Mời bạn đọc cùng thảo luận thêm.

Một cây đàn không làm nên dàn nhạc?

Người Việt có danh từ "Lương - tri", có nghĩa là: Con người ta chỉ có lương tâm - khi đi kèm tri thức. Từ "lương tri", theo gốc Latin là Conscience - cũng có nghĩa là ý thức. Nó được các triết gia từ cổ đại đến hiện đại bàn rốt ráo rằng, người ta chỉ có thể có lương tâm khi có ý thức và hiểu biết để phân biệt được cái hay - cái dở, cái tốt - cái xấu, cái phải - cái trái. Trình độ tri thức, khôn hay dại, vì thế vô cùng quan trọng, bởi vì nó chính là trình độ của lương tâm, cái sẽ xây nên tầm vóc của xã hội.

Người Việt có thông minh không, hay chỉ khôn lỏi thôi? Mới đây, chúng ta có Giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải Field thế giới về toán học, vậy thì ai dám nói là người Việt không thông minh?

Thế nhưng, vài chuyên gia đã chứng minh về cái gọi là "tâm lý đại biểu". Nghĩa là, thay vì bàn về sự thành - bại căn cứ vào bản thân mình, họ thường viện dẫn bằng tâm lý đại biểu, để nâng mình lên, rằng ở có người này người khác, ở phố kia, làng nọ, hay nước khác chẳng kém ai.

Giáo sư Ngô Bảo Châu

Xét về sự khôn - dại của người Việt ta cũng tương tự. Nếu cả nước ta lấy GS Ngô Bảo Châu ra để tự hào chính là dùng "tâm lý đại biểu" để ngụy biện cho mình. Lấy cái cố gắng, cái thông minh, cái thành công cao nhất của một con người bao phủ cho sự thiếu cố gắng, thiếu tư duy, và thiếu thành công cho bản thân mình, hay là cả dân tộc.

Đó sẽ là một niềm kiêu hãnh nguy hiểm, vì một bông hoa không làm nên vườn hoa, một người không làm nên dân tộc, và như nhạc sĩ thiên tài Shuman (1810-1853) nói: "Cái hay của âm nhạc nằm trong dàn nhạc". Nếu chúng ta chỉ cậy vào một cá nhân để tự hào, thì thay vì chúng ta có một dàn nhạc đại toàn tấu thì chúng ta chỉ có mỗi một cây đàn đang độc tấu.

Dân tộc 100 triệu người vẫn có thể là dân tộc... bé

Trước hết chúng ta hãy đưa ra một khung cảnh chung về một sự so sánh. Dân tộc Thụy Sĩ giờ đây có khoảng 5 triệu dân, cách đây gần 2 thế kỷ, lúc chỉ có khoảng vài chục vạn dân nhưng họ đã nổi tiếng về loại hình quốc hội mở ngoài trời, và có bộ não yêu sự chính xác đến mức tạo ra những chiếc đồng hồ nổi tiếng hoàn cầu.

Dân tộc Bồ Đào Nha, cách đây vài thế kỷ, cũng chỉ có khoảng vài chục vạn dân, vậy mà họ đã đóng những đoàn thuyền buồm lớn, chạy đua với Tây Ban Nha, sang tận châu Mỹ để tìm kiếm những thuộc địa mới.

Lần ngược lịch sử, các dân tộc Bắc Âu cũng vậy, vào lúc chỉ có một nhúm dân số, họ đã từng trở thành những kẻ khét tiếng chinh phục trên biển.

Còn nước Anh , cách nhiều thế kỷ, vào lúc dân số cũng lèo tèo một vài triệu, nhưng đã giong buồm đi chinh phục khắp thế giới với 1 khẩu hiệu ngạo nghễ rằng "Mặt trời không bao giờ lặn trên Vương quốc Anh".

Thụy Sĩ nổi tiếng là nước sản xuất đồng hồ hàng đầu thế giới

Ở ngay cạnh nước Việt, có Campuchia, dân số bằng 1/ 10 nước ta, nhưng lại có công trình Angkor Wat, một quần thể kiến trúc kỳ vĩ và đồ sộ hàng đầu thế giới. Công trình này có lẽ được xây dựng vào lúc dân số của họ chỉ đếm tới hàng vạn. Còn Việt Nam thì sao?

Theo số liệu mới nhất, nước Việt Nam hiện đang đứng thứ 12 về dân số, như vậy là sắp lọt vào "top ten". Rõ ràng chúng ta không nhỏ, trái lại còn là một cường quốc về dân số. Nhưng phẩm chất dân số thì sao? Theo các đánh giá về tri thức, giáo dục, nhân bản, xã hội, pháp luật, hay kinh tế... chúng ta còn nằm ở mức rất thấp, gần sát đáy của nửa cuối các dân tộc trong các bảng xếp hạng.

Tại sao nước ta lớn vậy, mà nhìn chung vẫn thấy vô vàn các điều bất cập, nhếch nhác, nghèo hèn, lộn xộn? Tất cả điều đó chắc chắn là sản phẩm của bộ não, tức ý thức, tức trí khôn, chứ không phải sản phẩm của cơ thể - tức da thịt.

Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.

Tại sao dân số nước Việt ngót trăm triệu người vẫn là dân tộc bé? Chúng ta hãy tham khảo cái nhìn hết sức chính xác của lãnh tụ Tôn Trung Sơn, trong cuốn "Chủ nghĩa tam dân". Ông nói: "Trung Quốc là một nước hơn 400 triệu dân (thời đầu thế kỷ 20) nhưng mà như một bãi cát rời rạc, bởi vì ở Trung Quốc chỉ có gia tộc và tông tộc mà không có quốc tộc". Khi đó, quốc gia chỉ là thứ gia đình được trải rộng dài, kéo dài ra. Nó là một đơn vị gia đình phồng lên, với các "gia quy", chứ không phải là một quốc thể với hệ thống lập hiến của mình....

Không có trí tuệ thì mỗi người chỉ là em bé to xác, không thể nào trưởng thành. Thân xác là thứ càng lớn càng giật lùi, như Lão Tử ở Trung Quốc đã ví: Đứa bé mới đẻ nắm tay chặt đến mức ngay cả người lớn cũng không kéo ra được, nhưng càng lớn đứa bé càng già và yếu. Bản năng không bao giờ tiến bộ! Chỉ có lý trí và trí tuệ mới tiến bộ được.

Một con người không phát triển trí tuệ không lớn lên, một dân tộc không dựa trên trí tuệ thì mãi mãi còn bé nhỏ. Triết gia Hegel , ông tổ của môn biện chứng pháp đã xác định: "Những tư tưởng dẫn dắt thế giới". Một dân tộc không có những tư tưởng thì sẽ như những toa tầu không có đầu tầu.

Tư duy bé nên làm ăn cò con

Mà tư tưởng của người ta lớn lên như thế nào? Triết học phương Tây xác định rằng: Trí tuệ chỉ có mỗi một con đường thể hiện, đó là ngôn ngữ. Anh muốn khoe khéo khoe khôn ư? Muốn trình bày lý thuyết hay phát minh của mình ư? Anh phải có công trình được viết ra, đọc lên, hay công bố.

Người ta dứt khoát rằng: Cái gì không nói ra miệng được thì không phải là trí tuệ. Đừng ấp úng, gật gật, rồi bảo mình khôn hơn hay có nhiều công trình trong đầu hơn người khác. Làm gì có thứ nhạc sĩ không có bản nhạc! Họa sĩ không có tranh! Nhà chế tạo không có phát minh?!

Nhưng ngôn ngữ lớn lên bằng cái gì? Bằng cách cọ xát bằng đối thoại. Một cầu thủ không thể tiến bộ nếu không trải qua thi đấu! Ngôn ngữ cũng như trí tuệ của người ta cũng không thể tiến bộ nếu không được đối thoại. Trong Kinh Thánh có câu "Ở đâu không có bàn định thì không có mưu sâu". Đó là điều chắc chắn, vì tất cả những ban tham mưu trên đời hình thành là để người ta bàn định tìm kiếm những giải pháp tốt nhất.

Người Việt cũng xác định đẳng cấp cao nhất phải hướng đến công lý của ngôn ngữ như: "Khôn ngoan đến cửa quan mới biết". Nhưng trong đời sống, vì hám theo đuổi tính vụ lợi hơn chân lý, người Việt thường áp dụng: "Người khôn ăn nói nửa chừng/ Làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo".

Rồi người ta hướng đến sự khôn ranh: "Khôn ăn người, dại người ăn". Hoặc tìm cách nói nước đôi để bảo toàn lấy mình: "Làm trai cứ nước hai mà nói". Dẫn đến "quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật".

Tại sao người Việt lại có lối sống, lối thể hiện, cũng là tìm cách che giấu nước đôi như vậy? Đó là sự khiếp nhược vì sống quá lâu trong chế độ phong kiến. Sợ nói không đúng thì không phải đầu cũng phải tai, nên thà nói nước đôi để chuồn bề nào cũng tiện. Đó cũng là lối nói của mặc cảm "nô tài".

Dân tộc 100 triệu người vẫn có thể là dân tộc... bé

Nói nước đôi thì có thể bảo toàn mình, nhưng không cách gì tiến bộ được, vì nói nước đôi là cách chưa nói gì.

Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.

Nước chúng ta là tam nông: Nông thôn, nông nghiệp, nông dân. Vì tư duy bé nên chúng ta làm ăn cò con. Vì ít thực phẩm nên chúng ta thường ăn vặt, dẫn đến khôn vặt, rồi có cả gian vặt nữa. Từ đặc điểm tam nông, chúng ta còn mắc các chứng: Tiểu nông, tiểu trí, và tiểu xảo.

Có một mệnh đề là, nếu người Việt thông minh thì chắc hẳn chúng ta đã có tầm vóc của một quốc gia hùng cường, nhưng rõ ràng chúng ta còn đang yếu về rất nhiều mặt. Rõ ràng đa số chúng ta mới khôn vặt, khôn trốn việc, khôn láu cá ăn người, chứ không phải cái khôn ngoan di sơn đảo hải như người Việt mong muốn và ao ước "có cứng mới đứng đầu gió".

Trái lại đa số chúng ta chỉ muốn làm cỏ giả để tìm nơi khuất gió. Cái khôn ranh chỉ là bản năng sống rình mồi kiếm ăn của các loài thú. Chỉ có cái khôn của hiểu biết mới biến con người thành công trình sư cho số phận của mình.